GIỚI THIỆU LUẬT THỐNG KÊ

Luật thống kê năm 2015 gồm 9 chương, 72 điều (tăng 30 điều); bổ sung 2 chương mới (Chương V: Nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin - truyền thông và hợp tác quốc tế trong hoạt động thống kê nhà nước và Chương VIII: Hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước); tách Chương IV của Luật thống kê năm 2003: Công bố và sử dụng thông tin thống kê nhà nước thành 2 Chương mới: Chương IV “Phân tích và dự báo thống kê, công bố và phổ biến thông tin thống kê nhà nước” và Chương VI “Sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê và thông tin thống kê nhà nước”; bổ sung mục 2 “Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước” vào Chương III “Thu thập thông tin thống kê nhà nước”; sửa đổi tên Chương V: "Hệ thống tổ chức thống kê" thành Chương VII "Tổ chức thống kê nhà nước"; đưa nội dung Chương VI “Quản lý nhà nước về thống kê” và Chương “Khen thưởng và xử lý vi phạm” của Luật thống kê năm 2003 vào Chương I “Những quy định chung”. Cơ cấu của Luật thống kê năm 2015 như sau:

Chương I. Những quy định chung, gồm 11 điều (Điều 1- Điều 11).

Chương II. Hệ thống thông tin thống kê nhà nước, gồm 15 điều (Điều 12-Điều 27).

Chương III. Thu thập thông tin thống kê nhà nước, gồm 3 mục, 18 điều:

+ Mục 1: Điều tra thống kê, gồm 9 điều (Điều 28-Điều 35);

+ Mục 2: Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước, gồm 4 điều (Điều 36-Điều 39);

+ Mục 3: Chế độ báo cáo thống kê, gồm 5 điều (Điều 40-Điều 44).

Chương IV. Phân tích và dự báo thống kê, công bố và phổ biến thông tin thống kê nhà nước, gồm 5 điều (Điều 45-Điều 49).

Chương V. Nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin - truyền thông và hợp tác quốc tế trong hoạt động thống kê nhà nước, gồm 3 điều (Điều 50-Điều 52).

Chương VI.  Sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê và thông tin thống kê nhà nước, gồm 8 điều (Điều 53-Điều 60).

Chương VII. Tổ chức thống kê nhà nước, gồm 6 điều (Điều 61-Điều 66).

Chương VIII. Hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước, gồm 3 điều (Điều 67-Điều 69).

Chương IX. Điều khoản thi hành, gồm 3 điều (Điều 70-Điều 72).

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Về phạm vi điều chỉnh

Luật thống kê năm 2003 quy định về hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê nhà nước; tổ chức thống kê nhà nước và hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước (Điều 1).

So với Luật thống kê năm 2003, Luật năm 2015 điều chỉnh cả thống kê nhà nước và thống kê ngoài thống kê nhà nước để bảo đảm tính toàn diện của tất cả các hoạt động thống kê trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của thông tin thống kê nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước nên các quy định của Luật chủ yếu vẫn tập trung vào hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê do hệ thống tổ chức thống kê nhà nước thực hiện. Đối với hoạt động thống kê của các tổ chức, cá nhân ngoài thống kê nhà nước, Luật chỉ quy định về mục đích, nguyên tắc, yêu cầu và phạm vi; quy định lĩnh vực cấm hoạt động thu thập thông tin. Quy định như trên, vừa bảo đảm tính toàn diện; vừa khẳng định thông tin thống kê và số liệu thống kê do hệ thống tổ chức thống kê nhà nước công bố có giá trị pháp lý; vừa bảo đảm tôn trọng quyền của tổ chức và cá nhân trong kinh doanh được quy định tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

2. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê và sử dụng dữ liệu, thông tin thống kê (Điều 5)

Luật bóc tách, làm rõ các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê Nhà nước và hoạt động thống kê ngoài Nhà nước, đồng thời làm rõ các nguyên tắc cơ bản của sử dụng dữ liệu và thông tin thống kê, theo đó:

Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê bao gồm: i) Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời; ii) Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê; iii) Thống nhất về nghiệp vụ, không trùng lặp, không chồng chéo.

Đối với hoạt động thống kê Nhà nước còn bao gồm 02 nguyên tắc đặc thù là: Công khai, minh bạch và có tính so sánh. Còn hoạt động thống kê ngoài thống kê nhà nước còn bao gồm 02 nguyên tắc đặc thù là: Tự nguyện, tự chịu trách nhiệm; và không xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Các nguyên tắc cơ bản của sử dụng dữ liệu và thông tin thống kê bao gồm: i) Trích dẫn nguồn dữ liệu, thông tin thống kê khi sử dụng; ii) Bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng dữ liệu, thông tin thống kê nhà nước đã được công bố; và iii) Bảo mật dữ liệu, thông tin thống kê theo quy định của pháp luật.

3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê (Điều 10)

3.1. Luật thống kê năm 2015 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê bao gồm: i) Khai man, làm sai lệch dữ liệu thông tin thống kê; ii) Can thiệp, ép buộc, áp đặt, mua chuộc, đe dọa, dụ dỗ người khác khai man, làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê và sử dụng thông tin thống kê; iii) Tiết lộ thông tin thống kê thuộc danh mục bí mật nhà nước; tiết lộ dữ liệu, thông tin thống kê chưa được công bố; sử dụng dữ liệu, thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài mục đích thống kê khi chưa được sự đồng ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

3.2. Đối với hoạt động thống kê nhà nước và sử dụng thông tin thống kê nhà nước, luật còn quy định nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời, cản trở việc cung cấp thông tin theo phương án điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê và từ dữ liệu hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định;

- Thực hiện sai các quy định trong phương án điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê, sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê; tự sửa đổi thông tin khi thực hiện điều tra, báo cáo thống kê và cung cấp thông tin từ dữ liệu hành chính;

- Báo cáo, công bố, phổ biến thông tin thống kê không chính xác;

- Quyết định điều tra thống kê, ban hành chế độ báo cáo thống kê trái quy định của pháp luật về thống kê.

3.3. Đối với hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê ngoài thống kê nhà nước, Luật còn quy định nghiêm cấm thực hiện hành vi thu thập, phổ biến thông tin thống kê thuộc bí mật nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

4. Về hệ thống thông tin thống kê nhà nước

Kế thừa Điều 7, Luật thống kê năm 2003, Luật thống kê năm 2015 quy định cụ thể về hệ thống thông tin thống kê nhà nước tại Chương II. Theo đó, hệ thống thông tin thống kê nhà nước bao gồm: i) Hệ thống thông tin thống kê quốc gia; ii) Hệ thống thông tin thống kê bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước; iii) Hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh; iv) Hệ thống thông tin thống kê cấp huyện (Điều 12).

Điểm sửa đổi, bổ sung lần này nhằm làm rõ các hệ thống thông tin thống kê ở nước ta, bao gồm: hệ thống thông tin thống kê quốc gia; hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành; hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh; hệ thống thông tin thống kê cấp huyện; làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin thống kê và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các hệ thống thông tin thống kê. Luật cũng cụ thể hóa các nội dung như: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành; hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Việc bổ sung một số nội dung mới này nhằm bảo đảm tính nhất quán trong hoạt động thống kê nhà nước, tạo cơ sở bảo đảm cho thông tin thống kê nhà nước không mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính khách quan, trung thực, có độ tin cậy cao đối với người sử dụng.

5. Về hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Luật thống kê năm 2015 đã cụ thể hóa danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Luật tại khoản 4 Điều 17. Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia được xây dựng trên cơ sở rà soát, nghiên cứu, tham khảo các văn bản, tài liệu sau:

- Danh mục hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ);

- Bộ chỉ tiêu phát triển giới quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 56/2011/QĐ-TTg ngày 14/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ);

- Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020;

- Dự thảo bộ chỉ tiêu phản ánh 17 Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc;

- 53 nhóm chỉ tiêu thống kê ASEAN (ASI) thực hiện trong giai đoạn 2016-2020;

- Niên giám thống kê của một số tổ chức quốc tế (ILO, FAO,…) và một số nước;

- Danh mục chỉ tiêu thống kê ASEAN;

- Luật thống kê một số nước có quy định về chỉ tiêu thống kê như: Canada, Hungari, Thụy Điển, Ba Lan, Mông Cổ, Niu Di-lân, Nhật Bản, Xinh-ga-po.

Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia tuân thủ theo nguyên tắc: Bảo đảm quản lý, điều hành tầm vĩ mô, bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực hiện và bảo đảm tính hội nhập và so sánh quốc tế.

Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia đã được hoàn thiện trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của các bộ, ngành.

6. Về thu thập thông tin thống kê nhà nước

Thực tiễn thống kê thế giới và Việt Nam cho thấy, nguồn dữ liệu hành chính có vai trò rất quan trọng đối với công tác thống kê nhà nước. Đây là nguồn thông tin quan trọng hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia, hệ thống thông tin thống kê bộ, ngành. Hiện nay xu hướng của nhiều cơ quan thống kê quốc gia sử dụng nguồn dữ liệu hành chính như là một nguồn thông tin chính yếu trong hoạt động của mình. Với nguồn thông tin này, hệ thống thống kê nhà nước có thể sử dụng dữ liệu hành chính phục vụ cho hoạt động thống kê nhà nước nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, đầy đủ về phạm vi, đáp ứng tính kịp thời và thường xuyên được cập nhật, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời giảm bớt phiền hà, gánh nặng cho cả người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin. Vì vậy, bên cạnh việc kế thừa hai hình thức thu thập thông tin thống kê chủ yếu là từ điều tra thống kê và báo cáo thống kê như Luật năm 2003, Luật thống kê năm 2015 bổ sung hình thức thu thập thông tin thống kê từ sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước (Mục 2 Chương III).

7. Về tổ chức thống kê nhà nước

Tổ chức thống kê trong Luật thống kê năm 2003 được xây dựng dựa trên mô hình kết hợp giữa tập trung (hệ thống thống kê tập trung) và phân tán (thống kê bộ, ngành) về cơ bản phù hợp, vì thế Luật năm 2015 tiếp tục kế thừa, và sửa đổi, bổ sung một số quy định cho phù hợp với thực tế, cụ thể là:

Đổi tên thành Chương VII “Tổ chức thống kê nhà nước”, bổ sung các quy định: “Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về thống kê” (Khoản 2 Điều 7); Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của hệ thống thống kê tập trung” (Khoản 5 Điều 62). Quy định như trên là phù hợp với Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, 9 Khoá XI của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị và kết luận 63-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương: “Từ nay đến năm 2016, về cơ bản giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện”.

Sửa đổi tên của Điều 31 "Thống kê xã, phường, thị trấn" của Luật thống kê năm 2003 thành Điều 64. "Hoạt động thống kê tại đơn vị hành chính cấp xã"; sửa đổi tên của Điều 32. "Thống kê doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp" thành Điều 65. "Hoạt động thống kê tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập". Việc sửa đổi này nhằm phù hợp với phương thức tổ chức công tác thống kê tại cấp xã cũng như tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phù hợp với tính tự chủ của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập theo quy định của pháp luật hiện hành.

8. Về hội nhập quốc tế trong hoạt động thống kê, nâng cao tính so sánh của thông tin thống kê với quốc tế

So với nhiều lĩnh vực khác, hợp tác quốc tế là một trong những nét đặc trưng của lĩnh vực thống kê trên phạm vi toàn cầu, nhằm bảo đảm tính có thể so sánh được của số liệu thống kê giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, đồng thời nâng cao vị thế thống kê Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Hợp tác quốc tế về thống kê là hợp tác nhằm trao đổi, chia sẻ nghiệp vụ, chuyên môn sâu về thống kê. Vì vậy, cần phải quy định vai trò điều phối của cơ quan thống kê trung ương nhằm bảo đảm chất lượng và tính hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê, đồng thời bảo đảm tính độc lập, khách quan, thống nhất và không trùng lắp về chuyên môn, nghiệp vụ của hoạt động thống kê nhà nước và nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan thống kê trung ương.

Luật thống kê năm 2015 đã bổ sung những quy định nhằm tăng cường năng lực thống kê quốc gia, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê, đưa thống kê Việt Nam hội nhập đầy đủ và sâu rộng với cộng đồng thống kê khu vực và thế giới, cụ thể như sau:

- Đưa mô hình 7 bước sản xuất thông tin thống kê vào các nội dung quan trọng của Luật trên cơ sở tham khảo các mô hình sản xuất thông tin thống kê của Thống kê Liên hợp quốc (GSPBM), Thống kê Châu Âu (Eurostat), Thống kê Thụy Điển,…;

- Quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và phân loại thống kê quốc gia được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam;

- Mục 2 Chương III “Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước” được quy định cụ thể trên cơ sở nghiên cứu các khuyến nghị của Cơ quan thống kê Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế. Theo đó, dữ liệu hành chính là nguồn thông tin quan trọng, hữu ích cho hoạt động thống kê nhà nước và sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước là xu thế phổ biến của nhiều cơ quan thống kê quốc gia. Vì vậy, cần khẳng định tại Luật thống kê để từ đó cơ quan thống kê trung ương được cung cấp và sử dụng dữ liệu hành chính phục vụ cho hoạt động thống kê nhà nước nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tiết kiệm chi phí;

- Quy định hợp tác quốc tế về thống kê nhà nước nhằm bảo đảm các số liệu thống kê đáp ứng yêu cầu so sánh quốc tế, nâng cao vị thế thống kê Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

9. Về nghiên cứu ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến

Kế thừa quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động thống kê tại Điều 5, Luật năm 2003, Luật thống kê năm 2015 quy định Chương V “Nghiên cứu, ứng dụng phương pháp thống kê, công nghệ thông tin – truyền thông và hợp tác quốc tế trong hoạt động thống kê nhà nước”. Chương này nhằm rút ngắn được thời gian thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích thông tin; thông tin thu thập, xử lý bảo đảm chất lượng; sản phẩm thông tin tạo thành phù hợp với chuẩn thế giới, khu vực và bảo đảm tính so sánh.

Luật thống kê năm 2015 cụ thể hóa lĩnh vực ưu tiên đầu tư trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại vào hoạt động thu thập và phổ biến thông tin thống kê, bao gồm:

- Kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành để cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin;

- Các phương pháp thu thập và phổ biến thông tin tiên tiến, bao gồm: máy tính bảng, điện thoại thông minh, phiếu thu thập thông tin dạng điện tử cho thu thập thông tin của các cuộc điều tra thống kê; công nghệ ảnh vệ tinh, công nghệ định vị toàn cầu và các phương pháp thu thập, phổ biến thông tin thống kê tiên tiến khác.

10. Về phân tích và dự báo thống kê (Điều 45)

Từ thực tế hoạt động thống kê cho thấy công tác phân tích, dự báo thống kê còn yếu, chưa thật sự được quan tâm và phát triển so với các nước trên thế giới. Để tăng cường công tác phân tích và dự báo, Luật thống kê năm 2015 đã bổ sung quy định về phân tích và dự báo thống kê.

Theo đó, phân tích và dự báo thống kê phục vụ việc xây dựng, đánh giá thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phân tích thống kê nhằm làm rõ các đặc trưng của hiện tượng kinh tế - xã hội; sự thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng, vai trò và tác động qua lại của từng yếu tố đối với hiện tượng theo thời gian và không gian. Dự báo thống kê nhằm đưa ra xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội. Phân tích và dự báo thống kê phải trung thực, khách quan, toàn diện trên cơ sở thông tin thống kê đã thu thập, tổng hợp, lưu trữ, hệ thống hóa và diễn biến của tình hình thực tế. Cơ quan thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước có trách nhiệm phân tích và dự báo thống kê theo chương trình thống kê.

11. Về thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Để khắc phục chênh lệch số liệu thống kê giữa cơ quan thống kê trung ương với địa phương và bộ, ngành, Luật quy định trách nhiệm và vai trò của cơ quan thống kê trung ương trong việc thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Trường hợp bộ, ngành không tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan thống kê trung ương thì cơ quan thống kê trung ương tự quyết định và chịu trách nhiệm (khoản 4 Điều 47).

12. Về phổ biến thông tin thống kê nhà nước (Điều 49)

Luật quy định thông tin thống kê đã được công bố theo quy định của Luật này phải được phổ biến kịp thời, đầy đủ, rộng rãi, công khai, minh bạch. Các hình thức phổ biến thông tin gồm: i) Trang thông tin điện tử của cơ quan thuộc hệ thống thống kê nhà nước; trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước; ii) Họp báo, thông cáo báo chí; iii) Phương tiện thông tin đại chúng; iv) Xuất bản ấn phẩm, các hình thức lưu giữ thông tin điện tử. Luật cũng quy định niên giám thống kê quốc gia hàng năm được phổ biến vào tháng 6 năm tiếp theo. Lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước là biểu thời gian ấn định việc phổ biến thông tin thống kê thuộc các hệ thống chỉ tiêu thống kê do người có thẩm quyền công bố thông tin thống kê xây dựng và công khai.

13. Về một số nội dung liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ thống kê nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê

a) Để nâng cao tính pháp lý của nhiều nội dung quan trọng của hoạt động thống kê, Luật kết cấu lại các nội dung có liên quan theo hướng phân tách những nội dung quan trọng của hoạt động thống kê thành cấp quốc gia và cấp bộ, ngành để từ đó phân định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện, cụ thể là:

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (Điều 17): Quy định tên chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê quốc gia.

- Bổ sung quy định về phân loại thống kê quốc gia (Điều 24), nêu rõ danh sách các phân loại thống kê quốc gia dùng chung trong hoạt động thống kê.

- Bổ sung quy định các cuộc tổng điều tra thống kê quốc gia (Điều 29), nêu rõ danh sách các cuộc tổng điều tra, cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức.

- Bổ sung quy định về sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước (Điều 36), nêu rõ danh sách cơ sở dữ liệu hành chính được sử dụng trong hoạt động thống kê nhà nước.

- Bổ sung quy định về chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia (Điều 41) nêu rõ tên chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và đối tượng thực hiện.

b) Bổ sung, sửa đổi một số điều khoản nhằm tăng cường vai trò của người thực hiện thu thập, tổng hợp và biên soạn thông tin thống kê; bổ sung nhằm nâng cao tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của điều tra viên thống kê: “Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ trong thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin theo phương án điều tra thống kê và hướng dẫn của cơ quan tiến hành điều tra thống kê” (điểm a khoản 1 Điều 34); bổ sung nhằm nâng cao tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê: “Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ trong thực hiện nhiệm vụ thu thập, tổng hợp thông tin” (điểm a khoản 1 Điều 44); bổ sung quyền “Được cung cấp, sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước có liên quan để tổng hợp số liệu thống kê (điểm c khoản 1 Điều 44).

- Bổ sung một số điều, khoản nhằm tăng quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thống kê trung ương trong lĩnh vực thống kê nhà nước, gồm:

+ Điều 39. Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thống kê trung ương trong quản lý, sử dụng dữ liệu hành chính.

+ Điều 54. Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan thống kê trung ương trong quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê.

c) Kết cấu lại một số điều khoản để làm rõ chức năng của cơ quan thống kê trung ương trong thẩm định các nội dung quan trọng trong hoạt động thống kê của bộ, ngành

- Thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê bộ, ngành (Điều 20).

- Thẩm định phân loại thống kê ngành, lĩnh vực (Điều 26).

- Thẩm định phương án điều tra thống kê (Điều 32).

-  Thẩm định chế độ báo cáo thống kê cấp bộ, ngành (Điều 43).

- Thẩm định số liệu thống kê của bộ, ngành trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (Điều 47).

d) Bổ sung Mục 2 Chương III “Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước” nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tăng tính chính xác, kịp thời của thông tin thống kê, tiết kiệm thời gian và chi phí, giảm phiền hà, gánh nặng cho người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin      thống kê.

- Quy định rõ nội dung sử dụng dữ liệu thành chính vào hoạt động thống kê nhà nước (khoản 2 Điều 36); danh mục các cơ sở dữ liệu hành chính được sử dụng trong hoạt động thống kê nhà nước (khoản 3 Điều 36) và nội dung cung cấp dữ liệu trong cơ sở dữ liệu cho hoạt động thống kê nhà nước (Điều 37).

- Quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu hành chính phục vụ yêu cầu quản lý và hoạt động thống kê nhà nước” (khoản 4 Điều 37).

- Quy định rõ nhiệm vụ và nghĩa vụ của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu hành chính (Điều 38); Nhiệm vụ và nghĩa vụ của cơ quan thống kê trung ương trong quản lý, sử dụng dữ liệu hành chính (Điều 39).

- Quy định sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê do cơ quan thống kê trung ương quản lý (Điều 53); quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê (Điều 55).

đ) Sửa đổi Mục 3 Chương III "Chế độ báo cáo thống kê" cho phù hợp với xu thế ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng nguồn dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhằm giảm bớt phiền hà và gánh nặng cho tổ chức thực hiện chế độ báo cáo.

Luật thống kê không quy định cụ thể về chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chỉ quy định chung là chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia và chế độ báo cáo thống kê cấp bộ, ngành.

e) Bổ sung các mức độ của số liệu thống kê được công bố nhằm minh bạch hóa việc công bố thông tin thống kê của cơ quan thuộc hệ thống tổ chức thống kê nhà nước. Các mức độ đó là: số liệu thống kê ước tính, số liệu thống kê sơ bộ, số liệu thống kê chính thức (khoản 1 Điều 48).

g) Sửa đổi, bổ sung Chương VI. Sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê và thông tin thống kê nhà nước:

- Quy định cụ thể về sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê do cơ quan thống kê trung ương quản lý (Điều 53).

- Bổ sung Điều 55. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu thống kê.

- Bổ sung Điều 59. Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thống kê trung ương trong việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước.

14. Về xử lý vi phạm

Do yêu cầu về kết cấu xây dựng văn bản Luật có thay đổi; để tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin thống kê, Luật thống kê năm 2015 bỏ Chương VII Khen thưởng và xử lý vi phạm của Luật thống kê năm 2003 và quy định như sau: “Người nào có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thống kê thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 11).

15. Về thanh tra chuyên ngành thống kê

Do Luật Thanh tra năm 2010 được ban hành thay thế những quy định về thanh tra trước đây, vì vậy, quy định về thanh tra thống kê trong Luật thống kê năm 2003 không còn phù hợp. Luật thống kê năm 2015 chỉ quy định nội dung chính, nhiệm vụ của thanh tra chuyên ngành thống kê (Điều 8).

 TIN TỨC LIÊN QUAN

Đa dạng các hoạt động tuyên truyền pháp luật trong trường học
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi năm 2022) được Quốc hội khoá XV kỳ họp thứ 14 thông qua vào ngày 14/11/2022, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2023. Theo đó, Luật được ban hành với những nội dung cơ bản như sau:
Ngày 15/11/2022, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phòng, chống rửa tiền (Luật số 14/2022/QH15), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2023, Luật gồm những nội dung cơ bản như sau:
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 10/11/2022. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023. Theo đó, Luật được ban hành với những nội dung cơ bản như sau: