CÔNG TÁC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ PHỤC VỤ SỰ CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM GIAI ĐOẠN 2021 - 2030

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 (Chương trình), Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025, Nghị định số 150/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, Nghị định số 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019 của Chính phủ về chế độ báo cáo trong các cơ quan nhà nước, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ báo cáo về công tác xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, như sau:

1. Kết quả xây dựng Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2011 - 2020
1.1. Về công tác chỉ đạo, điều hành
Để thúc đẩy xây dựng Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số, ngày 28/8/2018, Văn phòng Chính phủ đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1072/QĐ-TTg thành lập Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử trên cơ sở kiện toàn Ủy ban quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin. Căn cứ Quyết định số 701/QĐ-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện tử có chức năng, nhiệm vụ: giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều phối, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chiến lược, chương trình, cơ chế, chính sách, đề án, dự án, giải pháp có tính chất liên ngành về xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh; tạo thuận lợi cho việc triển khai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam. Ủy ban quốc gia có 12 thành viên Chính phủ, 05 Thứ trưởng, Trưởng ban Ban cơ yếu Chính phủ và Chủ tịch các Tập đoàn, Tổng công ty lớn về công nghệ thông tin, do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam làm Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông là Phó Chủ tịch Ủy ban.  
Hiện nay, các Bộ, ngành, địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử/Chính quyền điện tử do người đứng đầu Bộ, ngành, địa phương làm Trưởng ban.
1.2. Về hoàn thiện cơ chế, chính sách về hiện đại hóa hành chính, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử 
Trên cơ sở đánh giá quá trình triển khai Chính phủ phủ điện tử từ năm 2000 đến 2018 tại các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015, nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến, để tháo gỡ "nút thắt" và cách làm mới, Văn phòng Chính phủ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025. Triển khai Nghị quyết này, trong thời gian ngắn (2018 - 2020), công tác xây dựng Chính phủ điện tử đã có bước tiến vượt bậc.
Thúc đẩy xây dựng Chính phủ điện tử gắn kết cải cách cải cách hành chính, thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Văn phòng Chính phủ đã chủ trì tham mưu soạn thảo, trình ban hành các văn bản:
Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (quy định về Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh, kết nối liên thông hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia); Nghị định số 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019 của Chính phủ quy định về chế độ báo cáo trong các cơ quan nhà nước, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày ngày 22/5/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg ngày 09/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành để tạo hàng lang pháp lý đồng bộ cho việc xây dựng, vận hành an toàn, hiệu quả các hệ thống nền tảng của Chính phủ điện tử, như: Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về Quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 06/5/2020 của Chính phủ về công tác văn thư; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình chuyển đổi số quốc gia...
1.3. Về tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ chuyển đổi số, hiện đại hóa hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, vận hành Chính phủ điện tử, Chính phủ số
a) Về tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin ứng dụng công nghệ điện toán đám mây 
Văn phòng Chính phủ đã ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong triển khai hạ tầng kỹ thuật công nghệ, đến nay toàn bộ máy chủ được ảo hóa, quản lý tập trung theo mô hình đám mây riêng (Private Cloud); các cán bộ, chuyên viên Văn phòng Chính phủ chỉ cần sử dụng thiết bị đầu cuối để truy cập các ứng dụng phục vụ chuyên môn, xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Từ tháng 5/2018, 100% lãnh đạo cấp Vụ trở lên đã sử dụng các thiết bị máy tính bảng (IPAD) để phê duyệt hồ sơ, ký số các văn bản phát hành từ Văn phòng Chính phủ. Để sử dụng các thiết bị máy tính bảng, Văn phòng Chính phủ đã triển khai mạng 4G dùng riêng, bảo đảm an toàn an ninh thông tin cho các lãnh đạo Chính phủ, Văn phòng Chính phủ truy cập vào hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc để xử lý công việc từ xa và không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong lãnh thổ Việt Nam. 
b) Về triển khai Trục liên thông văn bản quốc gia - nền tảng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu số
Văn phòng Chính phủ đã xây dựng Trục liên thông văn bản quốc gia theo Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết nối các phần mềm quản lý văn bản và điều hành của các Bộ, ngành, địa phương, phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử. Hệ thống Trục liên thông văn bản quốc gia dựa trên công nghệ nền tảng X-Road của Estonia. Ngày 12/3/2019, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức khai trương Hệ thống, thực hiện ký số Quyết định số 274/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia gửi đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Đây là lần đầu tiên, lãnh đạo Chính phủ trực tiếp ký số phát hành văn bản điện tử trên môi trường mạng, qua đó cho thấy sự quyết tâm của Người đứng đầu Chính phủ ứng dụng các công cụ mới trong việc nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, vận hành chính phủ điện tử. Từ ngày 12/3/2019 đến nay, 94/94 đơn vị (100%) các Bộ, ngành, địa phương đã kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử với Trục liên thông văn bản quốc gia, đã có 769.120 văn bản điện tử gửi và 2.408.320 văn bản điện tử nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia. Việc gửi, nhận văn bản điện tử giúp giảm thời gian, tốc độ trao đổi thông tin, văn bản giữa các cơ quan hành chính nhà nước (thay vì mất nhiều ngày để văn bản đến được nơi nhận thì giờ đây, với việc văn bản được gửi, nhận điện tử, các đơn vị nhận được văn bản chỉ trong vài giây để kịp thời xử lý, dần xoá mờ khái niệm văn bản phát hành "thông thường" và văn bản phát hành "hoả tốc", "khẩn" và "thượng khẩn"). Theo tính toán, việc triển khai gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia giúp tiết kiệm chi phí xã hội khoảng 1.200 tỷ đồng/năm.   
Bên cạnh đó, việc gửi, nhận văn bản điện tử còn góp phần chuyển đổi số, thay đổi lề lối làm việc từ nền hành chính dựa trên giấy tờ sang nền hành chính điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Việc liên thông văn bản điện tử thông suốt từ Trung ương đến các cấp địa phương là cơ sở, nền tảng để triển khai kết nối, liên thông các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chính quyền các cấp, hình thành hệ thống Chính phủ điện tử kết nối thông suốt từ Trung ương đến địa phương.
c) Về triển khai Văn phòng Chính phủ không giấy tờ, Bộ, cơ quan không giấy tờ
Ngay từ tháng 5/2018, Văn phòng Chính phủ đã đi đầu trong triển khai Văn phòng Chính phủ không giấy tờ, quy trình xử lý công việc tại văn phòng được chuẩn hóa, điện tử hóa, theo đó, đến nay, 100% hồ sơ công việc được xử lý hoàn toàn trên môi trường mạng, 100% văn bản điện tử (không bao gồm văn bản mật) có ký số được phát hành từ Văn phòng Chính phủ qua Trục liên thông văn bản quốc gia gửi đến các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước. 
Nhiều Bộ, ngành, địa phương cũng đã hoàn thành nâng cấp hệ thống quản lý văn bản và điều hành, từng bước thực hiện xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng, phát hành văn bản điện tử có ký số, gửi nhận văn bản điện tử không kèm văn bản giấy giữa các cơ quan.
d) Về triển khai Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet)
Trên cơ sở học tập kinh nghiệm của Estonia, Văn phòng Chính phủ đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Hệ thống e-Cabinet, đến nay, Hệ thống e-Cabinet đã được đưa vào khai thác, sử dụng để phục vụ các hội nghị, phiên họp của Chính phủ và xử lý các công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, góp phần đổi mới phương thức làm việc của Chính phủ trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, hướng tới Chính phủ không giấy tờ. Theo đó, các tài liệu họp sẽ được gửi tới các thành viên Chính phủ trên hệ thống không kèm tài liệu giấy, việc biểu quyết thông qua các vấn đề cần lấy ý kiến hoàn toàn được thực hiện trên hệ thống và công khai tại phiên họp Chính phủ. Quy mô, phạm vi của Hệ thống được triển khai theo mô hình tập trung đặt tại Văn phòng Chính phủ và kết nối tới các Bộ, cơ quan ngang Bộ. 
Từ ngày 24/6/2019 đến nay, Hệ thống có 855 tài khoản người dùng (628 tài khoản người dùng thuộc Văn phòng Chính phủ và 227 tài khoản của Bộ, ngành) với hơn 21.000 lượt đăng nhập hệ thống, trong đó các Thành viên Chính phủ là hơn 7.500 lượt đăng nhập (tần suất đăng nhập trung bình của lãnh đạo Chính phủ là 12 lượt/tháng/người, của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là 27 lượt/tháng/người); Hệ thống đã phục vụ 23 Hội nghị, phiên họp của Chính phủ và thực hiện xử lý 561 phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (thay thế thay thế việc phát hành, in ấn, sao chụp hơn 208 nghìn bộ hồ sơ, tài liệu giấy; hỗ trợ đăng ký phát biểu, biểu quyết điện tử). Những kết quả này đã đáp ứng chỉ tiêu đặt ra là sử dụng 100% văn bản điện tử trong các phiên họp  Chính phủ và 100% các nội dung xin ý kiến thành viên Chính phủ được xử lý trên môi trường mạng (trừ nội dung bí mật nhà nước). Chi phí tiết kiệm được khi sử dụng Hệ thống khoảng 169 tỷ đồng/năm.  
đ) Về xây dựng hệ thống báo cáo quốc gia, thiết lập Trung tâm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Triển khai Nghị định số 09/2019/NĐ-CP của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Hệ thống báo cáo Chính phủ, Trung tâm chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin báo cáo, thử nghiệm kết nối, tương tác trực tuyến với một số Trung tâm điều hành, Trung tâm phục vụ hành chính công của các bộ, ngành, địa phương. Ngày 13/3/2020, Văn phòng Chính phủ đã ra mắt hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, ngày 19/8/2020, khai trương Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để hỗ trợ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số. Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia đến nay đã kết nối với 30 Bộ, cơ quan với 20 chế độ báo cáo và 106/200 chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Hiện tại, 106/106 chỉ tiêu kết nối đã cung cấp dữ liệu, hiển thị trên các Bảng theo dõi trực quan (Infographic) tại Trung tâm thông tin, các báo cáo Infographic về tình hình kinh tế - xã hội hàng tháng được hiển thị tại các phiên họp thường kỳ của Chính phủ; cung cấp thông tin dữ liệu, điểm tin hành ngày phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kết nối ổn định, thông suốt của 12 thông tin, dữ liệu trực tuyến kết nối với các Bộ: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia; phối hợp với 54/63 tỉnh cung cấp dữ liệu trực tuyến cho 08 chỉ tiêu kinh tế - xã hội; tương tác, điều hành trực tuyến thông qua hệ thống mạng dữ liệu của Bộ Quốc phòng, mạng chuyên dùng, Internet với gần 30 điểm cầu tại các bộ, ngành, địa phương. Hiện đang phối hợp để kết nối cửa khẩu biên giới các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai; khảo sát tại 05 bộ để phối hợp cung cấp thông tin dữ liệu của các cơ quan.
Chi phí tiết kiệm khi vận hành Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ (khi các chế độ báo cáo định kỳ của Bộ, cơ quan báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ - trung bình 20 chế độ báo cáo/1 năm - được điện tử hóa và gửi trên Hệ thống) khoảng 460 tỷ đồng/năm.
e) Về triển khai các hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm
Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 274/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia, Văn phòng Chính phủ đã phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới để triển khai hệ thống như: ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (Chatbot) trong trả lời tự động người dân, doanh nghiệp về tra cứu thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp, đánh giá mức độ hài lòng của người dân doanh nghiệp là thước đo quan trọng để phục vụ người dân, doanh nghiệp được tốt hơn; học tập kinh nghiệm triển khai hệ thống FranceConnect của Pháp, nghiên cứu triển khai hệ thống xác thực và chia sẻ thông tin - VNCONNECT trên Cổng dịch vụ công quốc gia, xây dựng mô hình hệ thống đủ mềm dẻo để đáp ứng nhu cầu xác thực định danh theo hiện trạng của Việt Nam và sẵn sàng thích nghi trong tương lai để xác thực định danh cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ công trực tuyến, áp dụng tối đa các công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư... và khai thác tối đa các cơ sở dữ liệu định danh sẵn có của bảo hiểm, thuế, ngân hàng, doanh nghiệp… trong khi cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư vẫn đang trong giai đoạn triển khai.  
Từ ngày 09/12/2019 đến nay, đã tích hợp, cung cấp 2.347 dịch vụ công trực tuyến; có khoảng 88 triệu lượt truy cập, trên 380 nghìn tài khoản đăng ký; hơn 24 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, trên 575 nghìn hồ sơ thực hiện trực tuyến qua Cổng; tiếp nhận, hỗ trợ hơn 38 nghìn cuộc gọi và trên 9 nghìn phản ánh, kiến nghị. Hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng dịch vụ công quốc gia đã kết nối với 10 ngân hàng và trung gian thanh toán cho phép thanh toán qua tài khoản của 40/46 ngân hàng tại Việt Nam đối với việc nộp thuế; phí, lệ phí thủ tục hành chính; nộp phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo hiểm xã hội; nộp tiền điện tại 10 Bộ, cơ quan và 50/63 tỉnh…
Chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công Quốc gia đóng góp (tính tại thời điểm tích hợp, cung cấp dịch vụ công thứ 1.000) khoảng: 6.700 tỷ đồng/năm.
1.4. Về nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc
Ngày 10/7/2020, Liên hợp quốc đã công bố Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử (E-Government Development Index - EGDI) năm 2020, theo đó, năm 2020, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia, vùng lãnh thổ tăng 02 bậc so với năm 2018 (năm 2018 xếp thứ 88/193), duy trì được việc tăng hạng liên tục trong giai đoạn 2010 - 2020 từ vị trí 90 tăng lên vị trí 86. Về giá trị, chỉ số EGDI của Việt Nam năm 2020 đạt 0,6667 điểm (năm 2018 đạt 0,5931 điểm), được xếp vào nhóm các nước phát triển chính phủ điện tử ở mức cao và cao hơn chỉ số EGDI trung bình thế giới (0,5988). Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam giữ nguyên vị trí như năm 2018, xếp thứ 6/11 nước, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei và Philippines.
Về các chỉ số thành phần, cũng như các năm trước, Chỉ số EGDI được tổng hợp từ 3 chỉ số: Chỉ số hạ tầng viễn thông (TII); Chỉ số nguồn nhân lực (HCI); Chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI). Vị trí xếp hạng về các chỉ số thành phần của Việt Nam năm 2020 có sự thay đổi tương đối lớn. Chỉ số hạ tầng viễn thông tăng mạnh, xếp thứ 69, tăng 31 bậc so với năm 2018; chỉ số nguồn nhân lực xếp thứ 117, tăng 3 bậc so với năm 2018; chỉ số dịch vụ trực tuyến xếp thứ 81, bị giảm 22 bậc so với năm 2018 (xếp thứ 59).
2. Đánh giá chung, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 
2.1. Đánh giá chung
Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, theo đó, nhiều văn bản pháp lý quan trọng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý nền tảng phát triển Chính phủ điện tử; đồng thời, nhiều hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (như: Trục liên thông văn bản quốc gia, Hệ thống e-Cabinet, Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ…), đã được đưa vào sử dụng, qua đó, giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, công khai, minh bạch, tạo lập niềm tin của người dân, cộng đồng doanh nghiệp.
2.2. Tồn tại, hạn chế
Mặc dù thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chính sách đã được Chính phủ ban hành thúc đẩy hiện đại hóa hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, tuy nhiên, một số văn bản quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế số chưa được hoàn thành như: Nghị định về quản lý, xác thực định danh điện tử, Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân...  
Một số bộ phận cán bộ công chức, viên chức chưa nhận thức rõ về hiệu quả trong việc sử dụng văn bản điện tử có ký số; chưa có ý thức thay đổi thói quen sử dụng văn bản điện tử thay cho văn bản giấy. Lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm việc ứng dụng chữ ký số trên văn bản điện tử, chưa triển khai chữ ký số cá nhân trong thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường mạng dẫn tới phát sinh thêm công việc cho cán bộ văn thư khi phải xử lý văn bản theo hình thức truyền thống (văn bản giấy) và môi trường điện tử. 
Về chuẩn hóa, điện tử hóa, kết nối, cung cấp dữ liệu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chưa đáp ứng yêu cẩu tại Quyết định số 293/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhiều chỉ tiêu quan trọng chưa được tích hợp lên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ.  
Về triển khai xây dựng dịch vụ công trực tuyến còn chạy theo số lượng, chất lượng hạn chế, hồ sơ xử lý trực tuyến còn thấp, thiếu cơ chế liên thông, việc tái cấu trúc, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cung cấp, tích hợp dịch vụ công trực tuyến của các Bộ, ngành, địa phương lên Cổng dịch vụ công quốc gia còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều quy trình vẫn từ giấy đến điện tử - điện tử đến giấy gây phiền hà thêm cho người dân, doanh nghiệp. Ví dụ: mặc dù các giấy tờ (giấy khai sinh, đăng ký kết hôn) đều do Chính phủ cấp cho người dân, nhưng mỗi lần làm thủ tục dịch vụ công trực tuyến, người dân lại phải nộp lại các giấy tờ này; các thủ tục liên thông đòi hỏi người dân doanh nghiệp phải thực hiện trên nhiều hệ thống khác nhau và vẫn phải mang bản giấy các giấy phép đến các cơ quan khác nhau. Đây là tình trạng "người dân làm văn thư cho nhà nước" trong khi việc điện tử hóa đúng ra phải giúp giảm thiểu việc này.
2.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề trên là do chưa phát huy vai trò của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số; khung pháp lý về xây dựng Chính phủ điện tử chưa đồng bộ; thiếu quy định cụ thể về định danh, xác thực cá nhân, tổ chức trong giao dịch điện tử; quy trình nghiệp vụ hành chính vẫn còn phức tạp, chưa được tối ưu, chuẩn hóa; tình trạng cát cứ thông tin, dữ liệu vẫn còn phổ biến dẫn đến trùng lặp, không thống nhất; chưa có thói quen quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu số; còn thiếu gắn kết chặt chẽ giữa ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới lề lối, phương thức làm việc; chưa chú trọng công tác truyền thông và huy động tối đa nguồn lực xã hội trong hiện đại hóa, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử...
3. Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2021 - 2030
Phát huy kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2021 - 2030 sẽ tập trung vào các nhiệm vụ, như: hoàn thiện xây dựng thể chế; xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; cải cách chế độ báo cáo, đẩy mạnh quản trị dữ liệu số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến lấy thước đo là sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, trong giai đoạn 2021 - 2030, cần tập trung vào những nội dung cụ thể sau:
3.1. Phương hướng, mục tiêu cụ thể
3.1.1. Phương hướng
Tiếp tục rà soát, đề xuất, hoàn thiện thể chế trong công tác xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo hướng gắn kết chặt chẽ với xây dựng Chính phủ và cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính và thay đổi lề lối làm việc của các cơ quan nhà nước.
Thúc đẩy thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử, họp và xử lý hồ sơ trên môi trường mạng của các cơ quan hành chính nhà nước trong hệ thống hành chính nhà nước; cải cách, chuẩn hóa chế độ báo cáo, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dựa trên dữ liệu số.
Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, gắn với việc đổi mới cơ chế thực hiện thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông hiện đại, gắn với số hóa hồ sơ, giấy tờ và phi địa giới hóa việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
Tiếp tục phát triển, hoàn thiện các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết nối, liên thông, tích hợp chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương, góp phần chuyển đổi số và thay đổi lề lối làm việc của các cơ quan nhà nước.
3.1.2. Mục tiêu
Đến năm 2025: 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, cấp tỉnh, 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật).
100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê kinh tế - xã hội (không bao gồm nội dung mật) phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
Triển khai nhân rộng Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; đến cuối năm 2025, phấn đấu 100% cấp tỉnh, 80% cấp huyện thực hiện họp thông qua hệ thống tại các cuộc họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
100% Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia; 100% giao dịch trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được xác thực điện tử.
100% số lượng người dân và doanh nghiệp tham gia Cổng dịch vụ công quốc gia được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
Tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ đạt từ 50% trở lên; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tích hợp 50% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các bộ, ngành, địa phương với Cổng dịch vụ công quốc gia; tối thiểu 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính.
Đến năm 2030: 100% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 80% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật).
Tiếp tục triển khai nhân rộng Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; đến cuối năm 2030, phấn đấu 100% cấp huyện thực hiện họp thông qua hệ thống tại các cuộc họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
100% Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia; 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia; 100% giao dịch trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh được xác thực điện tử.
Tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ đạt từ 80% trở lên; 90% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tích hợp 80% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các Bộ, ngành, địa phương với Cổng dịch vụ công quốc gia; tối thiểu 100% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính.
3.2. Nhiệm vụ và giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới lề lối, phương thức làm việc của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, tập trung giải quyết tốt mối quan hệ giữa nội bộ cơ quan hành chính với nhau và giữa các cơ quan hành chính với người dân, doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ công; chuyển mạnh phương thức làm việc và điều hành dựa trên dữ liệu bảo đảm nguyên tắc lấy người dùng làm trung tâm và người dân chỉ cung cấp thông tin một lần. 
Thứ hai, chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường mạng, biểu mẫu, chế độ báo cáo; tăng cường gửi, nhận văn bản, báo cáo điện tử tích hợp chữ ký số giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các doanh nghiệp; thực hiện số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc điện tử của các cơ quan nhà nước theo quy định.
Thứ ba, tiếp tục phát triển hoàn thiện Trục liên thông văn bản quốc gia thành nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu số kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thứ tư, phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ, phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiến tới triển khai phục vụ chỉ đạo, điều hành của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.
Thứ năm, phát triển, hoàn thiện Hệ thống phần mềm quản lý Cơ sở dữ liệu theo dõi về thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao kết nối, liên thông với các hệ thống quản lý văn bản và điều hành của Bộ, ngành, địa phương.
Thứ sáu, phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết nối, tích hợp theo thời gian thực với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, cơ quan, địa phương tại các cấp chính quyền.
Thứ bảy, phát triển, hoàn thiện hệ thống Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử của các Bộ, ngành, địa phương để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; hoàn thành việc tích hợp toàn bộ các dịch vụ công trực tuyến lên mức độ 3, 4 lên Cổng dịch vụ công quốc gia.
Thứ tám, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh và Cổng tham vấn điện tử theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ.
Thứ chín, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ.
Thứ mười, tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin, chuyển đổi hạ tầng công nghệ thông tin thành hạ tầng số ứng dụng công nghệ điện toán đám mây phục vụ kết nối, quản lý các nguồn lực, dữ liệu của cơ quan nhà nước một cách an toàn, linh hoạt, ổn định và hiệu quả, bảo đảm phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được hiệu quả.

NguồnBáo cáo chuyên đề của Văn phòng Chính phủ tổng kết Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ

 

 

 TIN TỨC LIÊN QUAN